Thứ hai, ngày 5 tháng 10 năm 2026

Trong nhiều thập kỷ, tư duy bảo tồn di sản trên thế giới từng bị giới hạn trong phạm vi hẹp của khái niệm nguyên gốc vật chất. Trọng tâm khi đó thường chỉ đặt vào lớp gạch đá, vật liệu, dáng vẻ kiến trúc hay những tàn tích khảo cổ còn sót lại. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, quan niệm về tính xác thực đã có bước chuyển dịch mang tính bước ngoặt, khởi nguồn từ Hiến chương Venice (1964), sau đó là Tuyên bố Nara (1994) và tiếp tục được bồi đắp qua nhiều diễn đàn bảo tồn quốc tế. Tính xác thực ngày nay không còn được nhìn nhận như một trạng thái tĩnh hay sự giữ nguyên trạng máy móc, mà là tập hợp của vô số lớp giá trị vật thể lẫn phi vật thể được tích tụ tự nhiên qua thời gian, biến thiên của lịch sử.

Tại Hội nghị Đối thoại châu Á - Thái Bình Dương về Di sản và tính xác thực vừa diễn ra tại Hà Nội, ông Lazare Eloundou Assomo, Giám đốc Trung tâm Di sản thế giới UNESCO nhận định: “Chúng ta sẽ cùng trao đổi về cách gìn giữ sự tiếp nối của di sản trong quá trình biến đổi, thay vì coi bảo tồn là giữ cho di sản không thay đổi. Chúng ta cũng sẽ thảo luận về vai trò của những thực hành văn hóa đang tiếp diễn, của ký ức và niềm tin gắn với các công trình và cảnh quan. Đây là những yếu tố có ý nghĩa không chỉ đối với việc ghi danh di sản vào Danh sách Di sản thế giới, mà còn đối với việc quản lý bền vững, bảo tồn các giá trị và gìn giữ ý nghĩa của di sản đối với cộng đồng”.

Thực tiễn bảo tồn tại Việt Nam đã cung cấp những minh chứng sống động cho góc nhìn toàn diện này. Hoàng thành Thăng Long là một trường hợp tiêu biểu nơi tính xác thực được khẳng định thông qua chuỗi diễn tiến lịch sử liên tục thể hiện qua các tầng khảo cổ nằm sâu trong lòng đất. Qua các đợt khai quật tại Khu di tích Hoàng thành Thăng Long, hệ thống nền móng kiến trúc, gạch ngói, đồ dùng sinh hoạt thuộc các thời kỳ Đại La, Lý, Trần, Lê, Nguyễn đã tạo nên một hồ sơ vật chất đặc biệt tin cậy. Mỗi lớp đất đá là một trang sử mở, làm căn cứ khoa học vững chắc để nhận diện và phục hồi bức tranh lịch sử của trung tâm quyền lực Đại Việt xưa. Ngay cả ở những đô thị thương cảng như Hội An hay Dejima của Nhật Bản, tính xác thực lại nằm chính ở sự giao thoa, di cư và trao đổi tri thức quốc tế diễn ra liên tục qua nhiều thế kỷ.

Ở một góc độ khác, Quần thể danh thắng Tràng An lại minh chứng cho tính xác thực thông qua lịch sử thích nghi sinh tồn của cư dân cổ trước những biến động môi trường khốc liệt. Các lớp trầm tích cùng di vật khảo cổ lưu lại trong hệ thống hang động đã ghi khắc hành trình cư trú, ứng xử linh hoạt của con người trước thiên nhiên. Dòng chảy ấy tiếp tục nuôi dưỡng đời sống tâm linh, các nghi lễ tín ngưỡng gắn với cảnh quan Hoa Lư từ thế kỷ thứ mười cho đến tận ngày nay.

Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Hường, Văn phòng UNESCO tại Hà Nội lấy ví dụ tại quần thể di sản Yên Tử, Vĩnh Nghiêm và Côn Sơn - Kiếp Bạc và cho rằng, di sản không chỉ nằm trong những gì còn lại của quá khứ mà thực sự sống khi các giá trị được trao truyền, thực hành và tiếp tục có ý nghĩa trong đời sống đương đại: “Với Phật giáo Trúc Lâm, điều đó thể hiện rõ qua Yên Tử, Vĩnh Nghiêm và Côn Sơn - Kiếp Bạc. Đây không chỉ là những không gian lưu giữ chùa, tháp, bia đá, tượng Phật hay cảnh quan văn hóa, mà còn là những không gian thực hành tinh thần, nơi tư tưởng và giá trị của một dòng thiền Việt Nam tiếp tục được cộng đồng tiếp nhận, diễn giải và trao truyền. Từ cách nhìn này, tính xác thực của di sản Trúc Lâm không thể chỉ được đánh giá qua hình thức vật chất mà còn qua những hình thức thực hành văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng”.

Từ đó, bà Hường cho rằng, cần đặt người dân địa phương vào vị trí chủ thể của quá trình bảo tồn và quản lý di sản. Người dân địa phương không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà phải được nhìn nhận là chủ thể của quá trình bảo tồn và quản lý di sản. Họ trực tiếp lưu giữ ký ức, tri thức, phong tục và các thực hành văn hóa gắn với di sản. Khi người dân được tham gia quản lý, được hưởng lợi hợp lý và có trách nhiệm với những giá trị mình gìn giữ, sự liên tục giữa quá khứ, hiện tại và tương lai sẽ được tạo lập một cách tự nhiên.

Các phiên thảo luận tại Hội nghị quốc tế về Di sản và Tính xác thực đã đi đến thống nhất rằng, tính xác thực không phải một trạng thái tĩnh hay sự giữ nguyên trạng một cách máy móc. Giá trị ấy được cấu thành từ vô số lớp bằng chứng sống động, tích tụ qua lịch sử và liên tục biến đổi để thích nghi với thời đại. Tính xác thực vừa hiện hữu ở phần nổi vật thể như đường nét kiến trúc, lớp sơn, viên gạch, vừa ẩn chứa sâu sắc ở phần chìm phi vật thể như ký ức cộng đồng, tri thức dân gian và mối quan hệ gắn kết giữa con người với thiên nhiên.

Nếu nền móng, kiến trúc hay hiện vật tạo nên phần xác cho di sản, thì cộng đồng địa phương chính là phần hồn, đóng vai trò quyết định sức sống nội sinh của di sản đó. Di sản chỉ thực sự sống khi những giá trị văn hóa không bị tách rời khỏi bối cảnh nhân văn, mà tiếp tục được cộng đồng thực hành, diễn giải và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nếu chỉ coi người dân là đối tượng thụ hưởng hay lực lượng bảo vệ thụ động, di sản rất dễ rơi vào nguy cơ bị thương mại hóa xơ cứng hoặc trở thành những mảnh phế tích lạnh lẽo. Khi được đặt vào đúng vị trí chủ thể của quá trình quản lý, chính cộng đồng sẽ trở thành tấm lá chắn bảo vệ di sản một cách tự nhiên và bền vững nhất.

Bài học từ những rừng trà cổ thụ trên núi Cảnh Mai ở Trung Quốc lại mang đến gợi mở đắt giá về sự hài hòa giữa bảo tồn tính xác thực và phát triển sinh kế. Người dân bản địa vừa duy trì các nghi lễ cúng thần rừng trà, tập quán hái trà thủ công truyền thống, vừa phát triển du lịch sinh thái để tạo nguồn thu nhập ổn định. Chính lợi ích kinh tế chính đáng và lòng tự hào văn hóa đã tạo động lực để cộng đồng chủ động bảo vệ di sản của tổ tiên mà không cần đến những mệnh lệnh áp đặt từ bên ngoài. Tương tự, sự trường tồn của kiến trúc gỗ truyền thống tại Luang Prabang của Lào hay nghệ thuật đá cổ nghìn năm tại Tutuala thuộc Timor-Leste đều đập cùng nhịp đập với các nghi lễ vòng đời, kỹ năng làm nghề thủ công và đời sống tâm linh thường nhật do chính cư dân bản địa nắm giữ.

Lấy ví dụ tại Hội An và Dejima của Nhật Bản, lịch sử giao thương và giao lưu văn hóa tạo nên phần ký ức của di sản. GS.TS Nguyễn Văn Kim, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, phân tích đây là những đô thị thương cảng được hình thành và biến đổi trong quá trình giao lưu quốc tế. Hội An mang dấu ấn của nhiều cộng đồng và nền văn hóa, đặc biệt trong thời kỳ thương mại phát triển mạnh ở thế kỷ XVII-XVIII. Dejima cũng hình thành trong quan hệ giao thương giữa Nhật Bản với Hà Lan và châu Âu: “Với các đô thị thương mại hàng hải, tính xác thực cần được nhìn trong quá trình vận động và giao lưu văn hóa”, GS.TS Nguyễn Văn Kim nhận định.

Ông Than Zaw Oo, Giám đốc Cục Khảo cổ và Bảo tàng Quốc gia Myanmar, bổ sung kinh nghiệm từ quá trình xây dựng hồ sơ và quản lý sau ghi danh: “Sau khi được ghi danh, công tác quản lý tiếp tục đặt ra yêu cầu duy trì các giá trị văn hóa đã được công nhận. Việc bảo đảm tính xác thực không dừng lại ở thời điểm một di sản được ghi danh”.

Tại Luang Prabang, Lào, tính xác thực cũng được nhìn nhận từ chính đời sống của người dân. Ông Paxa Nyordsavanh (Lào) cho biết, cảnh quan đô thị của Luang Prabang được tạo nên bởi hệ thống kiến trúc tôn giáo, những ngôi nhà gỗ truyền thống của người bản địa, dấu ấn kiến trúc thuộc địa và tổng thể cảnh quan đô thị đặc trưng. Nhưng với một di sản sống, những công trình vật thể mới chỉ là một phần câu chuyện. Người dân Luang Prabang vẫn truyền dạy cho nhau kỹ năng làm các dụng cụ thủ công; duy trì nghi lễ, phong tục gắn với những dấu mốc quan trọng trong vòng đời con người. Các nghi lễ truyền thống, nghi lễ voi, lễ đua thuyền và những hoạt động tưởng nhớ tổ tiên tiếp tục hiện diện trong đời sống cộng đồng.

Tác giả: Thư Vũ I Thực hiện: Đồng Toàn

Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

VOV.VN trên Google News