Doanh nghiệp cần chủ động ứng phó làn sóng điều tra phòng vệ thương mại
VOV.VN - Theo thống kê của Cục Phòng vệ thương mại, đến hết tháng 5/2026, Việt Nam đã phải đối mặt với 321 vụ việc từ 27 thị trường. Trong số các vụ việc này không chỉ có mặt hàng công nghiệp là đối tượng điều tra phòng vệ thương mại, hiện nay cả mặt hàng nông nghiệp cũng trở thành đối tượng được phòng vệ thương mại.
Theo bà Nguyễn Yến Ngọc, Trưởng phòng Xử lý phòng vệ thương mại nước ngoài, Cục Phòng vệ thương mại, trong bối cảnh Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng vào các hiệp định thương mại tự do (FTA) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam được hưởng nhiều lợi thế về cắt giảm thuế quan. Tuy nhiên, điều này cũng khiến các ngành sản xuất của nước nhập khẩu gia tăng sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại nhằm bảo vệ thị trường nội địa.
Phòng vệ thương mại là công cụ hợp pháp được WTO và các FTA cho phép các quốc gia sử dụng trong những điều kiện nhất định để bảo vệ ngành sản xuất trong nước. Ba biện pháp phòng vệ thương mại truyền thống gồm chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ. Bên cạnh đó, thời gian gần đây nhiều quốc gia còn áp dụng các biện pháp mới như chống lẩn tránh thuế, điều tra trợ cấp xuyên quốc gia hoặc các hàng rào kỹ thuật có tác động tương tự phòng vệ thương mại.
Theo Cục Phòng vệ thương mại, đến nay hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã đối mặt với 321 vụ việc điều tra phòng vệ thương mại từ 27 thị trường trên thế giới. Hoa Kỳ hiện là thị trường điều tra nhiều nhất với 82 vụ việc. Chỉ trong 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã phát sinh thêm hai thị trường lần đầu điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa Việt Nam là New Zealand và Ukraine.
Bà Nguyễn Yến Ngọc cho biết, số lượng vụ việc điều tra phòng vệ thương mại đang có xu hướng gia tăng nhanh. Điều này cho thấy áp lực bảo hộ thương mại trên thế giới ngày càng lớn, đặc biệt trong bối cảnh các nền kinh tế đang tăng cường bảo vệ sản xuất trong nước trước những biến động của thương mại toàn cầu.
Các mặt hàng thường xuyên bị điều tra không chỉ là thép, kim loại mà đã mở rộng sang nhiều sản phẩm nông nghiệp, thủy sản, thực phẩm chế biến, đồ gỗ, rau quả và các sản phẩm từ thực vật. Nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam như tôm, cá tra, mật ong, gỗ dán, tỏi, rau củ quả đã từng trở thành đối tượng của các vụ điều tra tại các thị trường lớn.
Trong số các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại này ban đầu nhiều doanh nghiệp cho rằng chỉ có mặt hàng công nghiệp mới là đối tượng điều tra phòng vệ thương mại, tuy nhiên hiện nay cả mặt hàng nông nghiệp cũng trở thành đối tượng được phòng vệ thương mại.
Các vụ việc điều tra hiện nay không chỉ gia tăng về số lượng mà còn phức tạp hơn về nội dung, phạm vi và thời gian xử lý. Nhiều vụ việc kéo dài từ 12-18 tháng, thậm chí trên 3 năm. Một số biện pháp phòng vệ thương mại có thể dẫn tới mức thuế rất cao, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp.
Bà Nguyễn Yến Ngọc dẫn chứng, có những vụ việc Hoa Kỳ áp dụng mức thuế phòng vệ thương mại lên tới hàng trăm phần trăm đối với hàng hóa nhập khẩu. Đối với hàng hóa Việt Nam, mức thuế cao nhất từng bị áp dụng lên tới khoảng 700%. Trong khi đó, một số quốc gia khác từng áp dụng mức thuế trên 3.000% đối với sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài. Những mức thuế này về bản chất gần như khiến hàng hóa không còn khả năng cạnh tranh tại thị trường nhập khẩu.
Theo bà Nguyễn Yến Ngọc, thực tiễn xử lý các vụ việc cho thấy doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được kết quả tích cực nếu chủ động hợp tác với cơ quan điều tra và phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý nhà nước. Nhiều vụ việc liên quan đến cá tra, tôm, mật ong hay sản phẩm gỗ đã ghi nhận mức thuế giảm đáng kể sau quá trình doanh nghiệp và cơ quan chức năng cung cấp thông tin, giải trình đầy đủ.
Ngoài ra, một trong những nguyên nhân khiến doanh nghiệp gặp bất lợi là chưa nhận thức đầy đủ về phòng vệ thương mại, chưa xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và lưu trữ hồ sơ đáp ứng yêu cầu điều tra. Bên cạnh đó, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nguồn lực tài chính hạn chế trong khi chi phí thuê luật sư, tư vấn cho một vụ việc có thể lên tới hàng trăm nghìn USD.
Để giảm thiểu rủi ro, doanh nghiệp cần thường xuyên theo dõi hệ thống cảnh báo sớm của Cục Phòng vệ thương mại; tìm hiểu kỹ quy định pháp luật của thị trường nhập khẩu; đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm; hạn chế cạnh tranh bằng giá; đồng thời tăng cường sử dụng nguyên liệu trong nước và xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc minh bạch.
Bà Nguyễn Yến Ngọc thông tin: "Chúng tôi khuyến nghị doanh nghiệp ngay khi chúng ta có ý định kinh doanh xuất khẩu rồi thì chúng ta nên theo dõi danh sách cảnh báo sớm của Cục Phòng vệ thương mại để chúng ta xác định được rằng chúng ta có nằm trong rủi ro hay không, chúng ta cũng nên tìm hiểu quy định củ nước nhập khẩu đấy, xam quy định của họ về phòng vệ thương mại hay về biện pháp nhập khẩu hoặc xu hướng chính sách nhập khẩu của họ như thế nào để chúng ta có chiến lược kinh doanh tốt nhất, phù hợp nhất cho từng giai đoạn. Chúng ta cũng sẽ đảm bảo tốt sản phẩm của mình, sẽ không phải là sản phẩm tiếp tay cho những hành vi lẩn tránh, chúng ta phải có hệ thống truy suất nguồn gốc, dữ liệu minh bạch, rồi hệ thống sổ sách kế toán chuẩn mực, chuẩn quốc tế, khi mà họ kiểm tra thì chúng ta có thể chứng minh được".
Hiện nay, với xu hướng bảo hộ thương mại tiếp tục gia tăng trên phạm vi toàn cầu, việc nâng cao nhận thức và năng lực ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại không chỉ giúp doanh nghiệp bảo vệ thị phần xuất khẩu mà còn góp phần nâng cao sức cạnh tranh, phát triển bền vững ngành nông nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Ngày 25/6, tại TP. Cần Thơ, Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam (VOV) phối hợp với Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), Sở Nông nghiệp và Môi trường cùng Sở Công Thương thành phố Cần Thơ đã tổ chức hội thảo “Doanh nghiệp nông nghiệp trước làn sóng điều tra phòng vệ thương mại”.






