Nghị quyết 25-NQ/TW: Để tiếng nói của nhân dân được lắng nghe và phản hồi
VOV.VN - Nghị quyết số 25-NQ/TW đặt yêu cầu tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, lấy niềm tin của nhân dân làm thước đo.
Trao đổi về những yêu cầu đặt ra đối với việc tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong bối cảnh hiện nay, TS. Ngô Thị Lan Hương, Phó Trưởng khoa Giáo dục Chính trị, Trưởng bộ môn Đường lối Cách mạng Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cho rằng cần đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, vận động và tập hợp nhân dân, trong đó lấy lắng nghe, đối thoại, giải quyết vấn đề thực tiễn và phát huy quyền làm chủ của nhân dân làm trọng tâm.
Lắng nghe để hiểu dân, đối thoại để tạo đồng thuận, và hành động để giữ niềm tin
PV: Nghị quyết 25-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Trong bối cảnh hiện nay, mối quan hệ này đang đặt ra những yêu cầu mới nào đối với công tác lãnh đạo, vận động và tập hợp nhân dân, thưa TS?
TS. Ngô Thị Lan Hương: Nghị quyết số 25-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới xác định một nguyên tắc xuyên suốt: Lấy nhân dân làm trung tâm, lấy niềm tin của nhân dân làm thước đo và lấy đối thoại, thuyết phục, giải quyết vấn đề thực tiễn làm phương thức. Nguyên tắc đó không mới, nhưng bối cảnh thực hiện nó thì đã khác - xã hội phân hóa nhu cầu nhanh hơn, thông tin lan truyền tức thời trên môi trường số, và một bộ phận không nhỏ người dân, nhất là giới trẻ, tiếp nhận thông tin về chủ trương, chính sách qua mạng xã hội trước khi qua kênh chính thống. Điều đó buộc công tác tư tưởng phải chuyển từ tư duy "tuyên truyền để dân biết" sang "lắng nghe để hiểu dân, đối thoại để tạo đồng thuận, và hành động để giữ niềm tin".
Muốn làm được điều đó, trước hết cấp ủy, chính quyền phải thực sự sát dân từ những vấn đề dân sinh thiết thực, nắm chắc tâm tư, nguyện vọng và đời sống của nhân dân, nhất là những vấn đề thiết thực liên quan đến việc làm, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, môi trường; đồng thời kịp thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân và chủ động giải quyết các vấn đề ngay từ cơ sở.
Cùng với đó cần tiếp tục đổi mới, đa dạng hóa phương thức tập hợp nhân dân. Các hình thức tuyên truyền, vận động truyền thống vẫn rất cần thiết, nhưng cần được kết hợp linh hoạt với các nền tảng số, chủ động hiện diện, tương tác và đối thoại với nhân dân trong môi trường số.
Công tác vận động cũng phải phù hợp với từng nhóm xã hội, từng đối tượng, bởi công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, thanh niên,... có những đặc điểm, nhu cầu và cách tiếp cận thông tin khác nhau. Vì vậy, cần lựa chọn phương thức, ngôn ngữ và kênh thông tin phù hợp để nội dung tuyên truyền, vận động thực sự gần gũi, dễ tiếp nhận và có sức thuyết phục.
Điểm cốt lõi là công tác vận động nhân dân phải chuyển mạnh từ “truyền đạt” sang “lắng nghe, đối thoại và cùng giải quyết vấn đề”. Khi người dân được lắng nghe, những vấn đề chính đáng được quan tâm và giải quyết kịp thời, sự đồng thuận xã hội sẽ được củng cố, đồng thời góp phần tăng cường niềm tin và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
Chuyển từ “nhân dân tham gia” sang “nhân dân thực sự là chủ thể của phát triển”
PV: Niềm tin của nhân dân được hình thành không chỉ từ chủ trương, chính sách mà còn từ cách Đảng và hệ thống chính trị lắng nghe, đối thoại và giải quyết những vấn đề thiết thực của người dân. Theo TS, cần đổi mới phương thức tiếp xúc, đối thoại và nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân như thế nào để sự gắn bó giữa Đảng với nhân dân ngày càng thực chất?
TS. Ngô Thị Lan Hương: Muốn sự gắn bó giữa Đảng với nhân dân ngày càng thực chất, trước hết phải đổi mới từ cách lắng nghe đến cách phản hồi. Niềm tin không chỉ được tạo dựng bằng lời nói, mà được bồi đắp qua trách nhiệm giải trình, sự công khai, minh bạch và những kết quả người dân có thể nhìn thấy trong thực tiễn. Đây cũng là tinh thần Nghị quyết 25-NQ/TW khi nhấn mạnh củng cố niềm tin của nhân dân và chuyển mạnh từ “quản lý thông tin” sang dẫn dắt nhận thức xã hội.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng, trong công tác vận động nhân dân hiện nay, cần có sự chuyển biến mạnh mẽ từ “tiếp dân” sang “chủ động tìm đến dân”. Không chỉ chờ đơn thư hoặc đến khi vấn đề phát sinh mới xử lý, mà phải chủ động nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân ngay từ cơ sở, thông qua các tổ chức đoàn thể, cộng đồng dân cư, đội ngũ trí thức, doanh nghiệp... để kịp thời phát hiện những vấn đề nảy sinh và chủ động giải quyết từ gốc.
Cùng với đó, cần chuyển từ “đối thoại” sang “đối thoại có trách nhiệm giải trình”. Đối thoại phải thực chất, tạo điều kiện để người dân được đặt câu hỏi, phản biện và đề xuất ý kiến. Đối với vấn đề chưa thể giải quyết ngay cũng cần được thông tin rõ: Vì sao chưa giải quyết, ai chịu trách nhiệm và lộ trình như thế nào. Nghị quyết yêu cầu tăng cường đối thoại, tiếp nhận, phản hồi và công khai kết quả xử lý ý kiến, kiến nghị của nhân dân. Điều này góp phần làm cho công tác vận động ngày càng thực chất, hiệu quả hơn.
Đặc biệt, trong môi trường số hiện nay, công tác vận động nhân dân cũng cần chuyển từ “nắm bắt dư luận” sang chủ động phân tích, dự báo và phản hồi. Trong môi trường số, cần kết hợp thông tin từ cơ sở với điều tra xã hội học, dữ liệu số và công nghệ để nhận diện sớm những vấn đề xã hội quan tâm, đồng thời cung cấp thông tin chính thống kịp thời, dễ tiếp cận. Qua đó, không chỉ giúp giải quyết tốt hơn những vấn đề phát sinh từ cơ sở mà còn củng cố niềm tin, tăng cường sự đồng thuận và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
Có thể nói, yêu cầu cốt lõi là: Lắng nghe phải đi đến phản hồi, đối thoại phải đi đến hành động và hành động phải tạo ra kết quả có thể kiểm chứng. Khi người dân thấy ý kiến của mình được lắng nghe và có sự chuyển động trong thực tế, sự gắn bó và niềm tin mới được củng cố một cách thực chất.
PV: Thưa TS, làm thế nào để phát huy tốt hơn vai trò chủ thể và quyền làm chủ của nhân dân, để người dân thực sự tham gia vào quá trình hoạch định, thực hiện và giám sát chính sách, qua đó tăng cường sự đồng thuận và gắn bó giữa Đảng với nhân dân?
TS. Ngô Thị Lan Hương: Theo tôi, cần chuyển mạnh từ quan niệm “Nhân dân tham gia” sang “Nhân dân thực sự là chủ thể của phát triển”. Quyền làm chủ phải được thể hiện thực chất và xuyên suốt trong cả quá trình hoạch định, thực hiện và giám sát chính sách.
Trước khi ban hành chính sách, phải tạo cơ chế để người dân được biết, được góp ý và được tham vấn thực chất, nhất là ý kiến của những nhóm chịu tác động trực tiếp. Đây là cơ sở để chính sách sát thực tiễn và có tính khả thi hơn.
Trong quá trình thực hiện, cần mở rộng các kênh để nhân dân tham gia giám sát, phản ánh và phản biện, kết hợp các hình thức trực tiếp với nền tảng số, qua đó tạo điều kiện để người dân tham gia vào quá trình quản trị xã hội.
Sau khi chính sách được triển khai, cần có cơ chế đánh giá và phản hồi rõ ràng: Người dân được hưởng lợi gì, còn điểm nghẽn nào, vấn đề nào cần điều chỉnh. Tiếng nói của nhân dân phải trở thành một nguồn thông tin quan trọng để hoàn thiện chính sách.
Tôi muốn nhấn mạnh, đồng thuận xã hội không có nghĩa là không còn những ý kiến khác biệt. Đồng thuận thực chất là khi có cơ chế để những ý kiến chính đáng được lắng nghe, được phản hồi và được xử lý bằng trách nhiệm cụ thể. Khi đó, nhân dân không chỉ là người thụ hưởng thành quả phát triển, mà thực sự trở thành chủ thể, nguồn lực và đối tác đồng hành cùng sự phát triển của đất nước.
PV: Xin cảm ơn TS!
“Cần chuyển mạnh từ quan niệm “nhân dân tham gia” sang “nhân dân thực sự là chủ thể của phát triển”. Quyền làm chủ phải được thể hiện thực chất và xuyên suốt trong cả quá trình hoạch định, thực hiện và giám sát chính sách”, TS. Ngô Thị Lan Hương, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.






